Góc học tâp

Sự khác nhau giữa hình thức phản ánh ý thức và các hình thức phản ánh khác là ở chỗ?

Câu hỏi: Sự khác nhau giữa hình thức phản ánh ý thức và các hình thức phản ánh khác là ở chỗ?

Lời giải:

+ Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh. Phản ánh vật lý, hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hoá (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý – hoá qua quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh. Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động.

Bạn đang xem: Sự khác nhau giữa hình thức phản ánh ý thức và các hình thức phản ánh khác là ở chỗ?

+ Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh. Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ. Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, v.v. khi nhận sự tác động trong môi trường sống. Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cam giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống.

+ Phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát triển đến trình độ có hệ thần kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trường sống.

+ Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh năng động, sáng tạo chỉ có ở con người. Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin.

Cùng Ukunifair tìm hiểu thêm về Ý thức và phản ánh ý thức nhé!

1. Ý thức là gì?

– Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác – Lenin là một phạm trù được quyết định với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo.

– Ý thức theo tâm lý học được định nghĩa là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người. Ý thức là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan.

– Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác – Lenin là một phạm trù song song với phạm trù vật chất. Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cái biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất”.

2. Nguồn gốc tự nhiên của ý thức

a. Nguồn gốc tự nhiên của ý thức là gì

– Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan. Như vậy, ý thức chính là sự phản ánh của con người về thế giới khách quan.

+ Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trinh tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (tức phản ánh ý thức). Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hoá của vật chất tự nhiên.

+ Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh. Phản ánh vật lý, hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hoá (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý – hoá qua quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh. Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động.

+ Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh. Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ. Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, v.v. khi nhận sự tác động trong môi trường sống. Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cam giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống.

+ Phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát triển đến trình độ có hệ thần kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trường sống.

+ Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh năng động, sáng tạo chỉ có ở con người. Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin.

b. Nguồn gốc xã hội của ý thức

– Nhân tố cơ bản nhất và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ.

+ Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên. Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung.

+ Ngôn ngữ

* Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau. Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là chữ viết.

* Ngôn ngữ do nhu cầu lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có hệ thống tín hiệu này, thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được.

* Theo C. Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.

* Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là diễn đạt những khái niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính.

* Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

3. Bản chất của ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

– Ý thức là sự phản ánh, cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh.

– Cái được phản ánh (tức vật chất) tồn tại khách quan, bên ngoài và độc lập với cái phản ánh (tức ý thức). Ý thức là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan. Vì vậy, không thể đồng nhất hoặc tách rời ý thức với vật chất.

4. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

– Vật chất quyết định ý thức

Rõ ràng rằng vật chất có trước, hiện hữu trong thực tiễn mà con người có thể nhìn thấy, sau đó bộ não con người sinh ra ý thức. Ý thức chính là chức năng hoạt động của bộ não nhưng ở mỗi người thì nó lại khác nhau. Ý thức chính là sự phản ánh thế giới vật chất xung quanh vào trí não của con người. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức liên hệ thực tiễn rất cần thiết.

– Ý thức tác động trở lại vật chất

Bạn biết đấy sau khi nhìn thấy, cảm nhận, tương tác với vật chất sinh ra nhận thức thì chủ thể có thể điều khiển mình hoạt động, làm những công việc tác động trở lại thứ vật chất đó. khiến cho thứ đó có thể thay đổi khác với hình dạng và công dụng ban đầu. Ý thức con người tác động theo chiều hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm vật chất theo ý của mình.

Sự tác động của ý thức nhất định phải thông qua hoạt động của con người cụ thể qua các hành động như cầm nắm, di chuyển, hay can thiệp vào vật chất. Tuy nhiên sự tác động này dù có ở mức độ nào thì nó vẫn phải dựa trên sự phản ánh qua bộ não của chủ thể.

Biểu hiện cụ thể mối quan hệ giữa vật chất và ý thức tồn tại ở các mối quan hệ trên thực tế trong xã hội. Chúng tác động qua lại lẫn nhau và cùng nhau tồn tại bền vững, là cơ sở để nhận xét các mối quan hệ. Bao gồm đánh giá nhận thức của từng chủ thể, điều kiện khách quan,…

Ví dụ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức: Trong ca dao tục ngữ “có thực mới vực được đạo” có nghĩa là vật chất có quyết định nhiều tới ý thức của con người. Bộ não con người sẽ phản ánh những hiện thực của cuộc sống một cách cụ thể. Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, con người sẽ biết những hành động, cư xử đúng mực.

Sự khác nhau giữa hình thức phản ánh ý thức và các hình thức phản ánh khác là ở chỗ? (ảnh 2)

– Vai trò của ý thức đối với vật chất: Ý thức có tính độc lập tương đối và có thể tác động ngược trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức tác động vào vật chất theo hai hướng:

+ Hướng tích cực khi con người có tri thức đúng đắn, có nghị lực, ý chí và tình cảm tích cực thì con người có khả năng hành động hợp quy luật khách quan.

+ Hướng tiêu cực khi con người không có tri thức đúng đắn, thiếu tình cảm, ý chí cách mạng sẽ nhận thức sai lầm và hành động trái quy luật.

Đăng bởi: ukunifair.vn

Chuyên mục: Góc học tâp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button