Góc học tâp

Phân tích luận điểm của Hegel: Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn

Hướng dẫn “Phân tích luận điểm của Hegel: Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn” đầy đủ, chi tiết nhất, bám sát nội dung chương trình môn Triết học, giúp các bạn học tốt hơn.

1. Tư tưởng biện chứng của Hegel và sự kế thừa của triết học Marx

– Nghiên cứu lịch sử triết học trước Marx, chúng ta biết rằng triết học cổ điển Đức (từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX) là một trong những nền triết học phát triển cao, ảnh hưởng lớn tới triết học hiện đại, đặc biệt là triết học Marx. Và nói đến triết học cổ điển Đức, không thể không nói đến Hegel, nhà triết học lỗi lạc được xem đại diện tiêu biểu, xuất sắc nhất của triết học cổ điển Đức.

– Engels đã nhận xét Hegel như sau: “Ông không chỉ là một thiên tài sáng tạo mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên trong mọi lĩnh vực ông xuất hiện như một người vạch thời đại”[i]. Còn Frederik C. Beiser[ii] thì cho rằng: “Dù yêu hay ghét Hegel, thật khó mà không biết đến ông, bởi tầm quan trọng lịch sử khổng lồ của đại triết gia này. Hầu hết mọi hình thức của triết học hiện đại đều chịu ảnh hưởng của ông hoặc là phản ứng chống lại ông. Điều đó không chỉ đúng cho chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh, mà cả cho Lý luận-phê phán, thông diễn học và triết học phân tích. Hegel vẫn đang là đường phân thủy của triết học hiện đại… Triết gia hiện đại muốn biết gốc rễ của mình, sớm hay muộn cũng phải trở lại với Hegel”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng, sự ảnh hưởng và sức hút lớn của triết học Hegel.

Bạn đang xem: Phân tích luận điểm của Hegel: Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn

– Triết học Hegel là một hệ thống đồ sộ, bao gồm nhiều lĩnh vực nhưng thành tựu to lớn nhất của triết học Hegel chính là phép biện chứng. Phép biện chứng của Hegel được trình bày chủ yếu trong ba tập Bách khoa thư các khoa học triết học, trong đó Bách khoa thư các khoa học triết học I – Khoa học Logic trình bày học thuyết về tồn tại, Bách khoa thư các khoa học triết học II – Khoa học Logic trình bày học thuyết về bản chất và Bách khoa thư các khoa học triết học III – Khoa học Logic trình bày học thuyết về khái niệm. Tư tưởng biện chứng của Hegel đã có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học Marx, trở thành một trong những tiền đề lý luận chủ yếu để hình thành nên triết học Marx.

– Đây là đặc điểm thời đại hình thành và chi phối nền triết học cổ điển Đức nói chung và triết học Hegel nói riêng.

– Nước Đức thời kỳ này vẫn là một quốc gia phong kiến cát cứ điển hình với chế độ chuyên chế nhà nước Phổ. Đây là thời kỳ nhà nước Phổ có sự suy yếu, lạc hậu về kinh tế và chính trị.

– Nước Đức nửa đầu thế kỷ XIX chứng kiến cuộc đấu tranh dai dẳng giữa những người theo chủ nghĩa tự do muốn một có liên bang Đức thống nhất dưới một Hiến pháp dân chủ, và những người theo chủ nghĩa bảo thủ, muốn duy trì nước Đức như là một tập hợp chắp vá bởi các tiểu quốc quân chủ độc lập, với Phổ và Áo tranh giành ảnh hưởng. Triều đình vua Phổ Friedrich Wilhelm vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.

– Trong khi đó, ở Tây Âu diễn ra các cuộc cách mạng tư sản làm rung chuyển cả Châu Âu, đặc biệt là cách mạng tư sản Pháp năm 1789; nước Anh khởi đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp. Chủ nghĩa tư bản đã hình thành ở nhiều nước ở Tây Âu, đem lại một nền sản xuất phát triển, mở đầu nền văn minh công nghiệp, khẳng định tính chất ưu việt của chủ nghĩa tư bản so với chế độ phong kiến.

– Sự lạc hậu của nước Đức, sự phát triển của các nước Tây Âu về kinh tế – xã hội, sự phát triển của khoa học đã thức tỉnh tính phản kháng của giai cấp tư sản Đức cũng như những bộ phận tiến bộ khác của xã hội và đòi hỏi phải có cách nhìn mới về tự nhiên, xã hội và con người. Giai cấp tư sản Đức muốn làm cách mạng tư sản như các nước Tây Âu, muốn xây dựng nền triết học theo yêu cầu mới, song do mới ra đời và nằm rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau nên họ còn yếu kém về số lượng, kinh tế và chính trị nên không thể tiến hành cách mạng tư sản trong thực tiễn, mà chỉ tiến hành cách mạng về phương diện tư tưởng. Họ vừa muốn làm cách mạng, lại vừa muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó nên họ giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển của đất nước. Chính điều đó quy định nét đặc thù của triết học cổ điển Đức nói chung và triết học của Hegel nói riêng: nội dung cách mạng dưới một hình thức duy tâm, bảo thủ; đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng, là điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học.

2. Mâu thuẫn là gì?

– Khái niệm mâu thuẫn theo quan điểm siêu hình được giải thích như sau: Mâu thuẫn là cái đối lập phản logic, không có sự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập. Nhân tố tạo thành mâu thuẫn biện chứng là mặt đối lập. Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau.

3. Quy luật mâu thuẫn

Quy luật mâu thuẫn gồm các nội dung sau:

Mọi sự vật hoặc hiện tượng đều chứa đựng những khuynh hướng, mặt đối lập, từ đó tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân chúng. Sự thống nhất và đấu tranh từ các mặt đối lập tạo ra xung lực nội của sự vận động, phát triển, và dẫn tới mất đi cái cũ thay thế bởi cái mới.

– Mặt đối lập:

+ Mặt đối lập là những mặt mà có những thuộc tính, đặc điểm, những tính quy định mà có khuynh hướng biến đổi trái ngược, tồn tại theo khách quan ở trong tự nhiên, tư suy và xã hội.

– Mâu thuẫn biện chứng:

+ Mâu thuẫn biện chứng là một trạng thái mà mặt đối lập liên hệ, chúng có tác động qua lại với nhau, theo đó mâu thuẫn biện chứng được tồn tại một cách khách quan, phổ biến ở trong xã hội, tư duy và tự nhiên. Trong mâu thuẫn biện chứng tư duy có sự phản ánh mâu thuẫn đối với hiện thực, nguồn gốc phát triển nhận thức.

– Sự thống nhất của các mặt đối lập:

+ Sự thống nhất của các mặt đối lập: là sự nương tựa với nhau, tồn tại nhưng không tách rời với nhau của các mạt đối lập, tự tồn tại đó phải lấy sự tồn tại của mặt khác để làm tiền đề.

+ Sự thống nhất đó tạo lên những nhân tố “đồng nhất” của các mặt đối lập. Khi ở một mức độ nào đó chúng sẽ có thể chuyển hóa cho nhau.

+ Sự thống nhất của các mặt đối lập cũng có biểu hiện tác động ngang nhau, đó chỉ là trạng thái vận động khi có sự diễn ra căn bằng.

– Sự đấu tranh của các mặt đối lập:

+ Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lợi với nhau theo xu hướng là bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó.

+ Hình thức đấu tranh các mặt đối lập vô cùng phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào mối quan hệ qua lại của điều kiện diễn ra cuộc đấu tranh và các mặt đối lập, tính chất.

Ukunifair vừa gửi đến bạn đọc các khái niệm về mâu thuẫn, ví dụ về mâu thuẫn và nội dung của quy luật mâu thuẫn. Các bạn có thể tự lấy được các ví dụ về mâu thuẫn trong đời sống của chúng ta. Những mâu thuẫn này nhìn thì trái ngược nhau nhưng chúng lại không thể tách biệt nhau hoàn toàn trong cuộc sống mà vẫn có những mối liên hệ với nhau. Các mặt mâu thuẫn tồn tại nhiều, phổ biến và dễ bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Có mâu thuẫn thì sẽ có thống nhất và đấu tranh, thúc đẩy sự vận động phát triển, tạo ra cái mới thay thế cái cũ.

4. Vận dụng luận điểm “ Cuộc sống tiến lên thông qua những mẫu thuẫn” trong sự nghiệp đổi mới của nước ta

– Sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã được nhân dân đồng tình ủng hộ. Thành tựu đạt được là rất to lớn, làm tăng thêm sự tin tưởng của toàn dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Đời sống tư tưởng, tinh thần của xã hội đã được sự nghiệp đổi mới thổi vào những luồng sinh khí mới. Xu thế tư tưởng, tinh thần của xã hội giờ đây là tự tin, phấn khởi đi vào công cuộc xây dựng đất nước vì sự nghiệp “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

– Tuy nhiên, cuộc sống vẫn chứa đựng mâu thuẫn và đấy cũng chính là sự vận động của cuộc sống tiến lên, Lê- nin đã hết sức tán thành quan điểm của Hégel cho rằng: “Cuộc sống đi lên thông qua những mâu thuẫn”. Vậy, mâu thuẫn của cuộc sống thể hiện trong mâu thuẫn trên lĩnh vực tư tưởng, tinh thần hiện nay là gì?

– Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa tinh thần nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn của phần lớn cán bộ chúng ta với việc phải vươn lên đứng trên tầm cao lý luận, phương pháp tiếp cận thực tiễn đúng đắn, khoa học. Xét đến cùng, đây là một loại mâu thuẫn trong tư duy, do đó đổi mới tư duy phải là một quá trình liên tục. Không bao giờ được phép coi việc đổi mới tư duy lý luận chỉ là việc làm cần thiết khi chưa đổi mới, mà phải coi quá trình đổi mới tư duy vẫn được tiếp tục ngay cả khi quá trình đổi mới đã giành được những thắng lợi. Đấy chính là quá trình biện chứng của tư duy, làm cho tư duy bao quát được biện chứng của sự vật, thâm nhập được vào lô-gích khách quan của thực tiễn. Rõ ràng cần phải có phẩm chất và tinh thần cách mạng, gắn bó với cuộc sống. Nhưng nếu chỉ có nhiệt tình, chỉ có tinh thần cách mạng, lòng trung thành, chỉ có tư tưởng, tinh thần và ý định tốt đẹp không thôi thì chưa đủ. Điều không kém phần quan trọng là trong khi hướng về hiện thực sôi động, tư duy, tư tưởng phải đứng trên tầm cao lý luận, có như vậy mới theo kịp những biến đổi rất nhanh chóng, phức tạp của thực tiễn, mới nhận biết và nắm chắc sự vận động của các quy luật trong quá trình phát triển xã hội và đưa ra được giải pháp tốt nhất, phù hợp nhất cho việc phát triển. Đó chính là tư tưởng, tinh thần có cội nguồn vững chắc từ thực tiễn và cơ sở lý luận tiên tiến phát triển.

– Thứ hai, là mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao về trình độ giác ngộ XHCN, sự kiên định về lập trường tư tưởng chính trị trước những biến động chính trị –xã hội phức tạp và trình độ dân trí về chính trị của một bộ phận cán bộ, nhân dân ta chưa được cao. Sự hiểu biết về chính trị đối với những vấn đề cơ bản như mục tiêu, lý tưởng, vai trò của giai cấp công nhân, cơ sở khoa học của chủ nghĩa xã hội, về sự quá độ lên CNXH còn hạn chế. Thiếu cơ sở khoa học, thiếu hiểu biết về chủ nghĩa xã hội là một trở ngại lớn trong sự phát triển tư tưởng và tình cảm XHCN. Mặt khác những biểu hiện của việc thờ ơ với chính trị, ngại nghiên cứu lý luận chính trị có ảnh hưởn rất lớn đến sự phát triển ý thức chính trị XHCN. Những biểu hiện đó đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp khắc phục nhanh chóng.

– Thứ ba là mâu thuẫn giữa yêu cầu giữ vững tư tưởng, bản lĩnh chính trị, tinh thần phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với môi trường kinh tế chính trị rất phức tạp, không thuần nhất. Sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khiến cho lý tưởng XHCN đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Tình hình này rất dễ dẫn đến sự ngộ nhận dẫn tới việc đồng nhất những sai lầm, khuyết điểm của hiện thực như là sai lầm của lý tưởng trong một bộ phận quần chúng dao động tư tưởng. Các thế lực thù địch đang tìm mọi cách tấn công vào chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mặt khác nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, ngoài những mặt tích cực, vẫn còn những yếu tố tiêu cực tác động đến đời sống tư tưởng, tinh thần của nhân dân. Do đó đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực hạn chế mặt tiêu cực về xã hội –chính trị của kinh tế thị trường.

– Thứ tư là mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao về việc rèn luyện phẩm chất chính trị, lý tưởng, đạo đức cách mạng với thực trạng của công tác giáo dục lý luận chính trị hiện nay. Nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị hiện nay chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, chưa thực sự khơi dậy những tình cảm, những cảm xúc cách mạng trong đối tượng giáo dục, đặc biệt trong thế hệ trẻ, trong các trường đại học. Do đó, phải bằng mọi cách, mọi phương pháp, tạo mọi điều kiện để nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận chính trị, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Giáo dục lý luận chính trị phải trở thành một môn học hứng thú, sinh động mở ra cho người học, nhất là cho thanh niên một chân trời mới, một khát vọng cộng sản chủ nghĩa về sự phát triển tiến bộ xã hội.

– Từ sự phân tích lĩnh vực tư tưởng, tinh thần như trên, đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp đồng bộ và triệt để nhằm giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn đó. Thực tế cuộc sống tư tưởng, đặt ra cho công tác giáo dục lý luận chính trị những nhiệm vụ mới và hơn bao giờ hết nó đòi hỏi lý luận chính trị phải giữ vững và khẳng định vai trò, vị trí của mình trên lĩnh vực tư tưởng, tinh thần của xã hội.

– Giáo dục lý luận chính trị, đặc biệt là giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin một bộ phận hợp thành quan trọng của giáo dục lý luận chính trị đang có vai trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

– Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách là khoa học về thế giới quan đều có mục đích chung là giáo dục về thế giới quan khoa học, phương pháp luận khoa học và về chủ nghĩa cộng sản. Chính vì vậy, trong quá trình đổi mới không những chúng ta phải phân tích tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc mà còn phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin. Tiếp thu những thành tựu lý luận, những kinh nghiệm mới từ thực tiễn cuộc sống để giữ vững định hướng XHCN trong quá trình phát triển đất nước.

Đăng bởi: ukunifair.vn

Chuyên mục: Góc học tâp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button