Góc học tâp

Lịch sử phát triển của xã hội trải qua mấy hình thái kinh tế xã hội?

Câu hỏi: Lịch sử phát triển của xã hội trải qua mấy hình thái kinh tế xã hội?

Trả lời: 

Thực tế lịch sử loài người đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa.

Bạn đang xem: Lịch sử phát triển của xã hội trải qua mấy hình thái kinh tế xã hội?

Cùng Ukunifair tìm hiểu về các hình thái kinh tế xã hội nhé!

1. Hình thái kinh tế xã hội là gì?

Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử (hay còn gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội) dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó. Nó chính là các xã hội cụ thể được tạo thành từ sự thống nhất biện chứng giữa các mặt trong đời sống xã hội và tồn tại trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội được xem là “hòn đá tảng” của quan niệm duy vật về lịch sử – một trong hai phát kiến vĩ đại của C. Mác. Nó là cơ sở phương pháp luận khoa học cho việc nhận thức đúng đắn sự vận động, phát triển của xã hội loài người; trở thành cơ sở lý luận để các đảng cộng sản và công nhân chân chính nhận thức về tính chất thời đại và đề ra đường lối chiến lược, sách lược cách mạng đúng đắn.

Cấu trúc cơ bản của hình thái kinh tế xã hội bao gồm:

– Lực lượng sản xuất

– Quan hệ sản xuất

– Các yếu tố khác

2. Các hình thái kinh tế xã hội

Theo chủ nghĩa Mác – Lê nin thì trong lịch sử loài người có 5 hình thái kinh tế xã hội từ cấp đến cao.

a. Hình thái cộng sản nguyên thuỷ.

Cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên và sơ khai nhất trong lịch sử loài người.  Trong xã hội công xã nguyên thủy, tư liệu lao động được sử dụng thô sơ chủ yếu là sử dụng đồ đá, thân cây làm công cụ lao động. Do đó, cơ sở kinh tế thời kỳ này là sự sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Như vậy, đặc điểm điểm về tư liệu sản xuất, cơ sở kinh tế là điểm nổi bật để so sánh công xã nguyên thủy với các hình thái kinh tế xã hội khác.

b. Hình thức chiếm hữu nô lệ

Xã hội chiếm hữu nô lệ xuất hiện tương đối sớm ở phương Đông, khoảng 3000 năm TCN ở các nước Ai Cấp, Lưỡng Hà, Ấn Độ,… sau khi chế độ thị tộc tồn tại trong công xã nguyên thủy tan rã. Đây là xã hội đầu tiên có nhà nước và các cuộc cách mạng xã hội đầu tiên trong lịch sử loài người đã hình thành nên hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nộ lệ.

c. Hình thái kinh tế-xã hội phong kiến (giai cấp phong kiến) 

Giai cấp thống trị mới trong hình thái này là giai cấp quý tộc – địa chủ, giai cấp bị trị là nông nô. Phương pháp bóc lột sức lao động trong xã hội chiếm hữu nô lệ được thay thế bằng hình thức bóc lột địa tô – người nông dân được giao đất đai và canh tác trên thửa ruộng của mình, đến kỳ hạn nộp tô thuế cho địa chủ. So với hình thái chiếm hữu nô lệ, hình thức lao động trong thời kỳ phong kiến đã tiến bộ hơn nhiều, tuy phải nộp tô thuế nhưng nông dân vẫn có thể được giữ lại phải của cải dư thừa của mình. Đồng thời nhiều tầng lớp, giai cấp mới đã xuất hiện trong xã hội.

d. Hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa

Những nét đặc trưng cơ bản của hình thái KTXH tư bản chủ nghĩa:

– Quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo vệ và coi như quyền thiêng liêng của con người.

– Cá nhân dùng sở hữu tư nhân để kinh doanh trong điều kiện thị trường tự do: mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế.

– Gắn với nền sản xuất công nghiệp có năng suất lao động cao.

– Bản chất sự “bóc lột” nằm ở giá trị thặng dư mà sức lao động tạo ra khi các nhà tư bản thuê lao động và sử dụng sức lao động.

e. Hình thái Tư bản chủ nghĩa

Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp lên cao, từ giai đoạn xã hội xã hội chũ nghĩa (chủ nghĩa xã hội) lên xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Trong chủ nghĩa xã hội, chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa mới đạt tới giới hạn bảo đảm cho xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. Khi nói về giai đoạn thấp của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa, C.Mác đã khẳng định: “Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện – kinh tế, đạo đức, tinh thần – còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”.

Giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản là giai đoạn xã hội cộng sản chủ nghĩa. Ở giai đoạn này, con người không còn lệ thuộc một cách phiến diện và cứng nhắc vào phân công lao động xã hội: đồng thời, lao động trong giai đoạn này không chỉ là phương tiện kiếm sống mà nó trở thành nhu cầu số một của con người. Khi đó, con người thực hiện nguyên tắc phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

C .Mác còn khẳng định, giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa có một thời kỳ quá độ từ xã hội nọ sang xã hội kia, là thời kỳ cải biến cách mạng một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Sau này, tronc tác phẩm Chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước, trên cơ sơ diễn đạt tư tưởng của C.Mác, V.I.Lênin đã phân tích quá trình hình thành, phát triển của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa qua các giai đoạn: 1) “Những cơn đau đẻ kéo dài” (thời kỳ quá độ); 2) Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa: 3) Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Đăng bởi: ukunifair.vn

Chuyên mục: Góc học tâp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button