Góc học tâp

Cách gọi khác của ngôn ngữ biến hình là gì?

Câu hỏi: Cách gọi khác của ngôn ngữ biến hình là gì?

A. Ngôn ngữ phân tích

B. Ngôn ngữ đơn lập

Bạn đang xem: Cách gọi khác của ngôn ngữ biến hình là gì?

C. Ngôn ngữ hòa kết

D. Ngôn ngữ chắp dính.

Trả lời: 

Đáp án đúng: C. Ngôn ngữ hoà kết

Cách gọi khác của ngôn ngữ biến hình là Ngôn ngữ hoà kết

Cùng Ukunifair tìm hiểu về ngôn ngữ nhé !

I. Phân loại các ngôn ngữ theo quan hệ loại hình

Phân loại các ngôn ngữ theo quan hệ loại hình là cách phân loại ngôn ngữ theo cấu trúc và chức năng của chúng. Kết quả phân loại cho ta những loại hình ngôn ngữ. Loại hình ngôn ngữ không phải là một ngôn ngữ cụ thể nào, cũng không phải là một tổng hoặc một tập các ngôn ngữ. Loại hình ngôn ngữ là tổng thể của những đặc điểm hoặc thuộc tính về cấu trúc và chức năng vốn có của các ngôn ngữ thuộc nhóm đó, phân biệt nhóm đó với các nhóm ngôn ngữ khác. Trong mỗi ngôn ngữ có thể thấy ba nhóm thuộc tính: thuộc tính phổ quát, tức là thuộc tính chung, vốn có đối với tất cả các ngôn ngữ thế giới, thuộc tính riêng biệt là thuộc tính chỉ có ở ngôn ngữ đó, thuộc tính loại hình là thuộc tính đặc trưng cho từng nhóm ngôn ngữ nhất định. Thuộc tính loại hình được dùng làm tiêu chuẩn để quy định vị trí của một ngôn ngữ nao đó trong khi phân loại.

II. Các loại hình ngôn ngữ

Căn cứ vào những thuộc tính loại hình mà các ngôn ngữ trên thế giới được chia chủ yếu thành hai nhóm lớn sau:

1. Ngôn ngữ đơn lập

Tiếng Hán, tiếng Thái và các tiếng trong nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer (tiếng Việt cũng thuộc nhóm tiếng này) là những ví dụ tiêu biểu cho loại hình ngôn ngữ đơn lập. Các đặc điểm chính của loại hình này là:

– Từ không biến đổi hình thái. Hình thái của từ không chỉ ra quan hệ giữa các từ trong câu.

– Hư từ và vị trí, trật tự từ đóng vai trò làm rõ quan hệ ngữ pháp cũng như ý nghĩa ngữ pháp của từ và của câu.
VD: Thêm hư từ “sẽ” hay “đang” trước từ “ăn” sẽ làm thay đổi ý nghĩa thời gian của hành động (đang ăn/sẽ ăn). Hoặc đảo vị trí các từ cũng làm thay đổi ý nghĩa ngữ pháp (ví dụ: “chân bàn” và “bàn chân”).

– Tính hình tiết; hạt nhân cơ bản của từ vựng là các từ đơn tiết. Vì thế mà ranh giới giữa âm tiết, hình vị và từ không rõ ràng (ví dụ: trong tiếng Việt, “nhà” vừa là một hình vị, mà cũng vừa là một từ). Cũng vì vậy mà từ ghép và cụm từ cũng khó phân biệt.

– Khái niệm “các từ loại” là rất mơ hồ. VD như “cưa” vừa là dụng cụ để xẻ gỗ, vừa chỉ hành động cắt xẻ gỗ. Nguyên nhân do cấu trúc của những từ có ý nghĩa đối tượng, tính chất, hành động,…không tách biệt nhau.

2. Ngôn ngữ không đơn lập

Được chia thành ba loại hình nhỏ sau đây:

a. Ngôn ngữ hòa kết (chuyển dạng)

Tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp…

– Từ biến đổi hình thái để diễn tả quan hệ ngữ pháp. Đặc biệt có sự biến đổi nguyên âm và phụ âm trong hình vị. Do sự biến đổi này mang ý nghĩa ngữ pháp nên được gọi là “biến tố bên trong”.

– Các hình vị trong từ ở ngôn ngữ hoà kết liên kết với nhau rất chặt chẽ. Chính tố không thể đứng một mình. Ví dụ trong tiếng Nga, chính tố “рук” không thể đứng một mình mà phải đi kèm phụ tố “-е'” hoặc “-ам” (“руке”,”рукам”).

– Mỗi phụ tố có thể đồng thời mang nhiều ý nghĩa, và ngược lại, một ý nghĩa có thể được biểu thị bằng nhiều phụ tố. Ví dụ để diễn tả ý nghĩa, tính chất đối lập, trong tiếng Đức có các phụ tố như “a-“, “un-” hay “im-” (“typisch” = điển hình và “atypisch”, “schön” = đẹp và “unschön”,…)

– Một điểm đặc biệt của ngôn ngữ hoà kết là: ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp được dung hợp trong từ nhưng không thể tách biệt được. Có thể thấy như trong tiếng Anh, rất khó để phân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp trong từ “feet” (số nhiều của “foot” = bàn chân). Chính bởi đặc điểm này mà người ta gọi là “ngôn ngữ hoà kết”.

b. Ngôn ngữ chắp dính

Tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ…

– Điểm khác biệt lớn nhất của ngôn ngữ chắp dính và ngôn ngữ hoà kết nằm ở độ chặt chẽ trong mối liên hệ giữa các hình vị. Hình vị trong ngôn ngữ chắp dính có tính độc lập cao hơn và liên kết với nhau cũng không chắc chắn. Điển hình là việc chính tố có thể đứng một mình. Để hiểu rõ, ta cùng xem thí dụ với tiếng Thổ Nhĩ Kỳ:

+ adam (người đàn ông)- adamlar (những người đàn ông)

+ kadin (người phụ nữ)- kadinlar (những người phụ nữ)

+ Các phụ tố được sử dụng rộng rãi để cấu tạo từ và biểu thị những mối quan hệ khác nhau. Thế nhưng mỗi phụ tố lại chỉ biểu thị một ý nghĩa ngữ pháp, và ngược lại cũng vậy. Do vậy từ có độ dài rất lớn.

c. Ngôn ngữ hỗn nhập (đa tổng hợp)

Các ngôn ngữ Chu-cốt, Cam-chat.

– Đặc điểm nổi bật nhất của loại hình ngôn ngữ này là hiện tượng một từ có thể tương ứng với một câu trong ngôn ngữ khác. Như ta đã biết, để cấu tạo nên câu cần phải có ít nhất thành phần chủ ngữ và vị ngữ, ngoài ra còn có định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ… Nhưng ở đây, tất cả được thể hiện chính tố, các phụ tố trong từ. VD: “i-n-i-a-l-u-d-am” trong tiếng Tschinuk ở Bắc Mỹ có nghĩa như câu ” tôi đã đến để cho cô cái này” trong tiếng Việt. Có thể thấy trong thí dụ trên các thành phần câu tương ứng với các bộ phận, thành phần được chứa đựng trong một từ. Vì thế người ta gọi các ngôn ngữ trên là “hỗn nhập” hay “đa tổng hợp”.

– Tuy nhiên, bên cạnh các hình thức hỗn nhập vẫn có các hình thức độc lập. Nghĩa là vẫn xuất hiện các từ tách rời, từ đơn.

– Các hình vị trong ngôn ngữ hỗn nhập vừa liên kết theo nguyên tắc kết dính như ngôn ngữ hoà kết hay chắp dính, vừa có thể chuyển dạng nội bộ. Nói cách khác, xét về mặt cấu trúc của các hình vị và mối liên kết giữa chúng thì các ngôn ngữ hỗn nhập mang những đặc điểm của cả hai loại hình ngôn ngữ trên.

Đăng bởi: ukunifair.vn

Chuyên mục: Góc học tâp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button