Góc học tâp

Anh (chị) hãy giải thích câu nói của Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập

Câu hỏi: Anh/chị hãy giải thích câu nói của Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

Trả lời:

Học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập nói một cách đầy đủ là học thuyết về  sự thống  nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập hay học thuyết về mẫu thuẫn biện chứng. Lê Nin đã nói:“Có thể định nghĩa vắn tắt PBC là  học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là  nắm được hạt nhân của PBC, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát  triển thêm” vì các lý do:

Bạn đang xem: Anh (chị) hãy giải thích câu nói của Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập

+ Nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của thế giới vật chất là vấn đề lớn nhất trong những vấn đề lớn của phép biện chứng. Lịch sử triết học trong gần 2000 năm, người ta cho rằng nguồn gốc của vận động, phát triễn đều là do Thượng đế hoặc thế lực siêu nhiên nào đó tạo ra. Chỉ đến khi đến Kant cho rằng “Thế giới vận động không phải là cú hích của Thượng đế” và tiếp theo đó Hêghen hoàn thiện hệ thống lý luận và cho ra đời PBC duy tâm như là cuộc cách mạng về phương pháp trong triết học. Lúc này phép biện chứng đã chỉ ra nguồn gốc của sự vận động, phát triển là do mâu thuẫn nội tại trong lòng sự vật, hiện tượng gây ra. C.Mác và Ph.Angghen cải tạo  “hạt nhân hợp lý” của PBC duy tâm của Hêghen theo tinh thần triết học duy vật của Phoiơbắc, xây dựng nên PBC duy vật – giai đoạn phát triển cao nhất của PBC trong lịch sử  triết học, làm cho  phép biện chứng trở nên hoàn bị. Chính việc chỉ ra mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động phát triển xảy ra trong thế giới mà điểm nghẽn đã được khai thông. Thật vậy, khi nghiên cứu bất kỳ sự vật, hiện tượng nào phép biện chứng yêu cầu ta phải tìm cách  khám phá  ra những mâu thuẫn biện chứng bên trong sự vật, xem xét cả quá trình hình thành, tồn  tại  và chuyển hóa của các mặt đối lập, xác định những mâu thuẫn nào là cơ bản qui định bản chất của sự vật, hiện tượng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Điều này có nghĩa cốt lõi của  việc nghiên cứu  sự vật, hiện tượng là nghiên cứu các mâu thuẫn biện chứng của nó. Do đó Lê nin mới cho rằng có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập, là nắm được hạt nhân của phép biện chứng.

+ Tuy nhiên muốn thực hiện được việc nghiên cứu nêu trên, yêu cầu của phép biện chứng duy vật còn đòi hỏi chủ thể luôn xem xét sự vật đặt trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, luôn vận động và phát triễn. Tức là phải chỉ ra những mối liên hệ chi phối sự tồn tại của sự vật, trong đó mối liên hệ phổ biến chi phối một cách tổng quát nhất đối với quá trình vận động và phát triễn của sự vật, hiện tượng và thể hiện  thông qua các cặp phạm trù. Thông qua các cặp phạm trù trong từng  giai đoạn cụ thể cả quá khứ và hiện tại chủ thể có thể chỉ ra bản chất của sự vật, hiện tượng đã và đang được thể hiện qua hình thức tồn tại nào, chứa đựng nội dung gì? bản chất và hiện tượng và sự vật thể hiện là gì? trong quan hệ với những sự vật và hiện tượng khác cái gì là cái chung, cái gì là  cái riêng, cái đặc thù? chúng qui định và chuyển hóa lẫn nhau như thế nào…? cái gì là tất nhiên, mang tính qui luật, cái gì là ngẫu nhiên? kết quả xảy ra là do những nguyên nhân nào…để từ đó chỉ ra được bản chất thật sự của sự vật, hiện tượng. Mặt khác phép biện chứng duy vật đòi hỏi phải chỉ ra cách thức của sự phát triễn là lượng đổi làm chất đổi và ngược lại; chỉ ra xu hướng vận động và phát triễn là phủ định biện chứng, cái mới hình thành thay thế cái cũ theo xu hướng tiến lên, dựa trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ và loại trừ những cái tiêu cực, lỗi thời của cái cũ…, thông qua những thông tin trong quá khứ và cặp phạm trù hiện thực-khả năng, với nguyên tắc phủ định biện chứng chủ thể dự báo những mâu thuẫn biện chứng có khả năng xuất hiện trong tương lai và biết được sự vật sẽ tồn tại như thế nào với những mâu thuẫn biện chứng đó. Vì lẽ đó  mà Lê Nin nói phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm.

Tóm lại Phép biện chứng duy vật là phương pháp triết học đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, luôn vận động phát triển. Phép biện chứng được thể hiện trong một hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù chuyển hoá lẫn nhau phản ánh mối liện hệ và và sự vận động, phát triển xảy ra trong thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy). Phép biện chứng bao gồm:

– Biện chứng khách quan: biện chứng của thế giới vật chất

– Biện chứng chủ quan: Sự phản ánh của biện chứng khách quan vào trong đời sống ý  thức của con người. Tức là tư duy biện chứng.

Dù là biện chứng chủ quan hay khách quan thì nó cũng là phép biện chứng với những nguyên lý,  qui luật và các cặp phạm trù. Vậy khi nói đến phép biện chứng, không dừng lại ở học thuyết mâu thuẫn mà còn phải nói đến các học thuyết về lượng đổi -chất đổi và ngược lại, học  thuyết về cái  mới cái cũ (phủ định biện chứng) và học thuyết về các cặp phạm trù. Đó là lý  do Lênin nói: “Có  thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biên chứng, những điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

Đăng bởi: ukunifair.vn

Chuyên mục: Góc học tâp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button